TRẦN NHÂN TÔNG –
NGƯỜI SÁNG LẬP THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
Nhân kỷ niệm 717 năm
ngày Đức vua Phật hoàng Trần Nhân
Tông nhập niết bàn, chúng ta cùng nhau ôn lại những đóng góp của Ngài với lịch
sử nước nhà cũng như sự hình thành đạo Thiền duy nhất tại Việt Nam – Thiền phái
Trúc Lâm.
Trần Nhân Tông là vị
vua duy nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam xuất gia tu Phật, là người
trực tiếp lãnh đạo quân dân Đại Việt chiến thắng kẻ thù hùng mạnh nhất trên thế
giới vào thế kỷ XIII, XIV – quân Mông Nguyên, đồng thời cũng là người sáng lập
ra phái Thiền Trúc Lâm, đưa Phật giáo Việt Nam mang bản sắc dân tộc sâu sắc.
Theo Đại Việt sử ký
toàn thư của sử thần Ngô Sỹ Liên:“Trần
Nhân Tông tên húy là Trần Khâm, con trưởng của thượng hoàng Trần
Thánh Tông và Nguyên Thánh Thiên cảm hoàng thái hậu, sinh năm 1258, ngày 11
tháng 11, được tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể
chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng, gọi là Kim Tiên đồng tử. Trên vai bên trái
có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn.”
Khi Trần Nhân Tông được
vua cha truyền ngôi báu, ngài mới 20 tuổi (năm 1278). Lúc này đế quốc Mông
Nguyên đang âm mưu bành trướng nước ta. Đại việt đứng trước nguy cơ bị xâm lược.
Với tư cách là người đứng
đầu nhà nước, vua Trần Nhân
Tông không hề nao núng. Năm 1282, ngài đã cho mở hội nghị Bình Than, họp các
vương hầu, tướng lĩnh bàn kế sách thủ công và chia nhau đóng giữ những nơi hiểm
yếu. Cũng chính vua Trần Nhân Tông là người phong cho Trần Hưng Đạo chức Quốc
Công Tiết Chế, thống lĩnh toàn quân.
Năm 1284, trước tình
hình đất nước nguy cấp, lúc này là thượng hoàng Trần Nhân Tông đã cho mở hội
nghị Diên Hồng, triệu các phụ lão trong cả nước để hỏi kế đánh giặc. Các phụ
lão đều giơ tay “đánh”, muôn người
như một. Tướng sĩ đều tỏ thái độ quyết không đội trời chung với kẻ thù, trên
cánh tay đều thích hai chữ “Sát thát”. Có người còn săm vào bụng: “
Nghĩa dĩ quyên khu, hình vu báo quốc” (Vì việc nghĩa mà quên mình, liều thân để
báo đền ơn nước).
Tượng phật hoàng Trần Nhân Tông tại Thượng điện chùa Phổ Minh
Vua Trần Nhân Tông là người anh hùng cứu nước, giúp dân.
Ngài là nhà quân sự có tài, đã sử dụng sự đoàn kết và lòng yêu nước, căm thù giặc
của toàn dân để làm nên chiến thắng quân Mông Nguyên oanh liệt và vẻ vang.
Ngài là một vị vua nhân từ, giàu lòng thương người.
Ngài luôn tôn trọng những đóng góp của quân dân trong cuộc kháng chiến chống
quân xâm lược Mông Nguyên bằng cách tạc tượng những vị tướng lĩnh, vương hầu ấy.
Đối với những người có tư tưởng hàng giặc, nhà vua đều khoan thứ và cho đốt hết
những tờ biểu tư thông với giặc để xóa bỏ hiềm nghi và cùng chung sức xây dựng
lại đất nước.
Sự kiện này cho thấy Phật
hoàng Trần Nhân Tông đã nhìn xa trông rộng và hiểu được việc cần nhất lúc này
là gây dựng lại đất nước, mà không phải là sự đả kích tư tưởng lẫn nhau. Ngài
hiểu rằng cần đặt lợi ích quốc gia lên trên hết.
Dù đang ở vị trí cao sang quyền quý nhưng ngài vẫn
từ bỏ mọi quyền uy để bước chân vào con đường tu hành đầy gian nan, vất vả và
nhường ngôi con trai, sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm.
Phái Trúc Lâm do Phật hoàng Trần Nhân Tông là người
sáng lập. Đây là đạo thiền chỉ có duy nhất tại Việt Nam. Giáo lý của Thiền phái
Trúc Lâm luôn hòa đạo với đời, giáo dục lòng nhân đạo, không phân biệt giàu
sang.
Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông đã về chùa Phổ
Minh (nay là phường Nam Định,
tỉnh Ninh Bình) để giảng kinh Vô Lượng
và bố thí cho dân nghèo. Chính Trần Nhân Tông đã đưa đạo Phật thời Trần nhập thế,
không xa xôi, huyền vi và trở thành một tông phái độc lập.
Tinh thần nhập thế đã
được Trần Nhân Tông vận dụng tích cực. Ngài đã đi tu và lên núi Yên Tử để học đạo,
nhưng sau này Ngài về lại quê hương để truyền đạo. Đối với thiền phái Trúc Lâm,
ai cũng có Phật ở trong lòng, ai cũng có thể thành Phật. Đó là đặc sắc của Thiền
phái Trúc Lâm.
Trong bài phú Cư Trần lạc
đạo, Trần Nhân Tông có nhận định rằng:
“Ở đời vui đạo hãy
tùy duyên
Đói đến thì ăn nhọc ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền.”
Đức vua, phật hoàng Trần
Tông Nhân được coi là nhân vật kiệt xuất trong lịch sử phong kiến Việt Nam và
cũng là nhân vật đặc biệt, có công lao lớn trong sơ đồ Phật giáo Việt Nam, một
trong những niềm tự hào lớn của dân tộc ta.
Bùi Thu Trang - BQL khu di tích
phường Nam Định
Tài liệu tham khảo:
- Đại Việt sử ký toàn thư – Nhà xuất bản
khoa học xã hội – tác giả: Ngô Sỹ Liên, Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên…
- Mười bốn
vị hoàng đế thời Trần – Sở văn hóa thông tin Nam Định 2008- TS Nguyễn Xuân Năm,
Trần Đăng Ngọc, Nguyễn Quốc Hội