KHỞI NGUỒN MỘT LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT: MÚA BÀI BÔNG - NGUY CƠ MAI MỘT VÀ TRÁCH NHIỆM BẢO TỒN MỘT DI SẢN PHẦN II: ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT VÀ KỸ THUẬT MÚA BÀI BÔNG THỜI TRẦN
KHỞI NGUỒN MỘT LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT:
MÚA BÀI BÔNG - NGUY CƠ MAI MỘT VÀ TRÁCH NHIỆM BẢO TỒN MỘT DI
SẢN
PHẦN II: ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT VÀ KỸ THUẬT MÚA BÀI BÔNG THỜI TRẦN
Trong phần mở đầu chúng ta đã được biết về nguồn gốc của múa Bài Bông là
một hình thức nghệ thuật xuất hiện từ thời Trần, đây là điệu múa thường được sử
dụng dịp đại lễ và chốn giáo phường hoặc ở nơi cửa đình khi có lễ hội. Loại
hình múa này phản ánh sâu sắc tinh thần sùng đạo Phật và tư tưởng nhân văn của
vương triều Trần.
Đặc trưng
nghệ thuật của múa Bài Bông
Múa Bài Bông thể hiện lòng thành kính, biết ơn với trời đất, tổ tiên và
các vị thần linh, thể hiện niềm vui, sự yên bình, phồn thịnh của quốc gia, dân
tộc. Có khi mang tính chúc tụng trong các dịp khánh tiết, đăng quang, đại lễ
Bài là dàn ra
từng hàng, bông là hoa, nghĩa là những hoa đẹp dàn hàng múa hát. Múa Bài bông
là nhã nhạc của đế vương, thịnh điển nhất trong giới nhạc. Thể thơ Bài Bông rất
phong phú đa dạng gồm hơn 200 câu đó là những câu thơ thể lục bát, thất ngôn tứ
tuyệt. Nội dung của bài hát có nội dung ca tụng thần linh và tấm lòng của nhân
dân, những câu hát thể hiện sự tôn kính của dân làng đối với vị thần bảo hộ của
làng và cũng thể hiện ước muốn thể hiện vị thần đó ban cho dân khang vật thịnh,
trời đất thái hoà, nhạc điệu trong ca từ nâng cánh cho bài bông bay bổng còn vũ
điệu lại mang hơi hướng các điệu múa dân gian cung đình.
Múa bài bông tuy đơn giản về động tác, nhưng đòi hỏi người múa phải thuộc
lời hát để khớp đúng động tác với từng câu hát, rất khác so với múa thông thường
khi vũ công chỉ cần nghe nhạc là có thể múa được. Lời bài hát xưa được viết bằng
chữ Hán, rất khó học thuộc.
Múa Bài Bông gồm 9 màn nhưng trên thực tế chỉ diễn 6 màn theo thứ tự: Bài
hát Kéo ra (Tựa như màn giáo đầu), bài hát Xuân ca ngợi cảnh sắc tươi vui đất
nước vào mùa Xuân, các bài Hạ - Thu -
Đông diễn xướng linh hoạt tùy theo tiết mùa - Sau bài hát
Xuân đến bài hát Khách - Tiếp tục là bài Thời Hồ (Tức là Đào viên kết
nghĩa) bài hát Khách và kết thúc là bài
Kéo vào. Múa đủ 6 màn hết gần một tiếng. Từ trước đến nay hiếm có một điệu múa
nào kéo dài như thế.
Múa theo đội hình: thường từ 4 đến 12 người di chuyển theo hình vòng tròn hoặc hàng ngang. Tuỳ theo mức độ quan trọng
của không gian diễn xướng, mà tăng số lượng người lên gấp đôi: hoặc 8 hoặc 16.
Vào những dịp đại lễ thì đội múa phải có 32 người, 64 người múa.
Trang phục: Các cô khi múa thì mặc áo mã tiền thêu kim tuyến, chân áo
đính chân chỉ hạt bột, trên mũ gắn một quả bông, hai bên vai đeo hai cái đèn lồng
thắp nến, tay cầm quạt tàu, lúc thì xếp quạt, lúc xòe quạt linh hoạt và trông rất
vui mắt, lưng thắt dây bằng nhiễu xanh đỏ, bỏ moi hai bên để lúc múa tự nó tung
ra, chân đi bít tất trắng. Đi kèm với đội múa là một đội nhạc: có Quản
giáp cầm trống cái giữ nhịp, một người đánh đàn đáy, một đàn nguyệt bốn dây; một
đàn tam; một trống mảnh, chiêng và trống cơm, nhạc tấu khoan
thai, vui tươi gợi nên cảnh thái bình.
Phong cách biểu hiện:
Múa Bài Bông không nặng kỹ thuật hình thể mà đề cao vẻ đẹp mềm mại, thanh
thoát, gợi cảm, cảm giác thiêng liêng. Gương mặt các cô gái luôn giữ nét điềm
tĩnh, trầm mặc, ánh mắt hướng lên cao hoặc nhìn lên tay thể hiện sự tôn kính và
tịnh tâm.
Phối hợp múa và hát động tác tay và chân mềm mại: tay cầm quạt làm đạo cụ
chính. Là loại hình diễn xướng dân gian tương đối phức tạp, múa cũng
khó ngang như hát, chưa kể đến chuyện phải kết hợp hài hoà giữa múa và hát. Âm
điệu là tổng hợp các làn điệu dân ca, còn vũ điệu là các điệu múa dân gian.
Kỹ thuật
múa Bài Bông.
Tấm ảnh
của bác sĩ Charles-Edouard Hocquard, một bác sĩ quân y đã theo đoàn viễn chinh
Pháp sang Việt Nam đầu thế kỷ 20, chụp những đội múa bài bông thời kỳ đó - Ảnh
tư liệu
ảnh tư liệu: Người Nam Định.net
Tay nâng lên cao, xoay chậm theo trục cổ tay như đang dâng lễ vật. Hai
tay nâng ngang vai, đầu nghiêng nhẹ, bước chân chuỷển động nhẹ nhàng. Tay múa mềm
mại, chân đi chậm theo nhịp.
Quỳ lạy: Động tác thiêng liêng, người múa quỳ xuống tay đưa lên cao rồi
chắp tay vái ba lần.
Kết hợp tay-chân-ánh mắt: tạo sự hài hoà trong chuyển động, thể hiện thần
thái.
Điều phối đội hình: Theo vòng tròn, hoa văn sóng nước hoặc đối xứng
Động tác kết thường là chắp tay trước ngực hoặc dâng tay lên. Múa lấy nhạc
làm chuẩn đích, tiến thoái nhanh chậm đều do nhạc điều khiển, lúc quay chỉ quay
một nửa người, không bao giờ quay lưng vào hương án.
Múa Bài Bông thời Trần là một di sản văn hoá độc đáo, kết tinh vẻ đẹp tâm
hồn, tín ngưỡng và thẩm mỹ của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn lịch sử. Đặc biệt,
nó vừa mang dấu ấn của nghệ thuật cung đình, vừa thấm đẫm tinh thần Phật giáo,
thể hiện qua những động tác múa mềm mại, tinh tế và đầy ý nghĩa biểu tượng.
Sưu tầm và biên soạn
Trần Thị
Thuỷ
BQL Khu Di tích LS-VH Đền Trần, Chùa
Tháp-P. Nam Định
NGUỒN THAM
KHẢO
https://baophapluat.vn/doc-dao-nghe-thuat-truyen-thong-thoi-tran-post70759.html